Theo các số liệu thống kê cho ta thấy, hầu hết các nhà máy, cơ sở xi mạ có quy mô nhỏ và vừa đều tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa…Trong quá trình sản xuất, nước thải của các nhà máy xí nghiệp này đều bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng.

Đặc trưng chung của nước thải mạ Crom
Nước thải mạ crom chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng như đồng, kẽm, crôm, niken… Trong nước thải xi mạ thường có sự thay đổi pH rất rộng từ rất axit (pH = 2 – 3) đến rất kiềm (pH = 1 0 – 11). Các chất hữu cơ thường có rất ít trong nước thải xi mạ, phần đóng góp chính là các chất tạo bóng, chất hoạt động bề mặt…nên chỉ số COD, BOD5 của nước thải mạ điện thường nhỏ và không thuộc đối tượng cần xử lý. Đối tượng cần xử lý chính trong nước thải là các muối kim loại nặng như crôm, đồng, kẽm, sắt, photpho…
Lượng nước thải của mạ điện không phải là lớn so với các ngành công nghiệp khác; như nước thải của ngành công nghiệp giấy, dệt… Song thành phần và các chất độc hại trong đó khá lớn.
Ảnh hưởng của nước thải xi mạ đối với môi trường
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người: Các ion kim loại nặng Pt, Cu, Cr, Ni… có thể gây bệnh viêm loét dạ dày, viêm đường hô hấp, bệnh eczema, ung thư…
Ảnh hưởng đến hệ sinh thái: Các thành phần kim loại nặng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng phát triển của con người, động và thực vật. Với nồng độ đủ lớn sinh vật có thể bị chết hoặc bị thoái hóa, với nồng độ nhỏ có thể gây ngộ độc mãn tính hoặc tích tụ sinh học. Ảnh hưởng trực tiếp đối với cá và thức ăn, đầu độc các sinh vật làm cho các nguồn phù du để nuôi cá, gây bệnh cho cá và biến đổi các tính chất hóa lý của nước.
Ảnh hưởng tới hệ thống cống thoát nước, nước ngầm, nước mặt. Nước thải công nghiệ p có tính axit , ăn mòn các đường ống dẫn bằng kim loại, bêtông.

Phương pháp xử lý nước thải mạ Crom
Crom có trong nước thải thường ở dạng ion hoá trị 3 Cr+1 và ion hoá trị 6 Cr+6. Crom tồn tại đầu tiên trong nước thải ở dạng ion hoá trị 6 như là C rO ^2 và CrOỹ2 . Crom thường dùng trong công nghiệp sản xuất mực, thuốc nhuộm, sơn; và quá trình làm sạch kim loại, mạ điện.
Để khử crom phải khử crom có hoá trị 6 xuống crom có hoá trị 3; sau đó keo tụ hydroxít crôm hoá trị 3.
Hoá chất thường dùng để khử crom hoá trị 6 xưống hoá trị 3 là sulfát sắt FeSO4, metabisulfitenatri NaS2O5 và dioxitsulfua SO2 , . FeSO4, Na2S2O5 thường được định lượng vào nước ở dạng dung dịch hoặc dạng bột khô. Còn khí SO2 định lượng trực tiếp để hoà trộn vào nước từ bình đựng khí áp lực; thông qua thiết bị định lượng áp lực hoặc chân không. Vì phản ứng khử crôm xảy ra có hiệu quả ở trị số pH thấp nên khi dùng FeSO4 để khử crom, Fe+2 bị oxy hoá thành Fe+\ Còn nếu dùng Na^S2O5 hoặc SO2 thì ion mang điện tích âm SO2 sẽ chuyển thành SO2.